Skip to content

Quyền trẻ em - Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự

1. Nội dung

Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự(21).

2. Trách nhiệm bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự cho trẻ em(22)

- Gia đình, Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em; thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn cho trẻ em.

- Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em đều bị xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

3. Hành vi vi phạm quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự

3.1 Hành hạ, ngược đãi, làm nhục, chiếm đoạt, bắt cóc, mua, bán, đánh tráo trẻ em; lợi dụng trẻ em vì mục đích trục lợi; xúi giục trẻ em thù ghét cha, mẹ, người giám hộ hoặc xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của người khác.

a. Xâm phạm thân thể, đánh đập, đối xử tồi tệ đối với trẻ em; bắt trẻ em nhịn ăn, uống, mặc rách, hạn chế vệ sinh cá nhân; giam hãm trẻ em; bắt trẻ em sống ở nơi có môi trường độc hại, nguy hiểm.

b. Gây tổn thương về tinh thần, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, lăng nhục, chửi mắng, đe dọa, làm nhục, cách ly, sao nhãng ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em.

c. Dùng các biện pháp trừng phạt để dạy trẻ em, làm trẻ em tổn thương, đau đớn để thể xác và tinh thần.

d. Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác để chiếm đoạt, bắt cóc trẻ em, cách ly trẻ em khỏi cha, mẹ, người giám hộ.

e. Thường xuyên đe dọa trẻ em bằng các hình ảnh, âm thanh, con vật, đồ vật làm trẻ em sợ hãi, tổn thương về tinh thần.

f. Mua, bán trẻ em dưới mọi hình thức.

g. Đánh tráo trẻ em vì bất cứ mục đích gì.

h. Xúi giục, kích động, lừa dối trẻ em dưới mọi hình thức làm cho trẻ em thù ghét cha, mẹ, người giám hộ.

i. Xúi giục, kích động, lừa dối trẻ em xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự của người khác.

3.2 Áp dụng biện pháp có tính chất xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân phẩm hoặc dùng nhục hình đối với trẻ em vi phạm pháp luật

a. Lăng nhục, chửi mắng, bắt làm những việc có tính chất xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân phẩm đối với trẻ em vi phạm pháp luật.

b. Tra tấn, gây đau đớn về thể xác, giam hãm trong điều kiện tồi tệ hoặc dùng các biện pháp làm tổn thương về tinh thần đối với trẻ em vi phạm pháp luật.

4. Để đảm bảo thực hiện quyền này: Đối với các hành vi xâm phạm quyền này của trẻ em, pháp luật quy định như sau:

4.1 Xử phạt vi phạm hành chính(23):

- Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình

+ Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.

+ Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a. Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;

b. Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.

+ Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi trên.

- Hành vi hành hạ, ngược đãi thành viên gia đình

+ Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a. Đối xử tồi tệ với thành viên gia đình như: bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân;

b. Bỏ mặc không chăm sóc thành viên gia đình là người già, yếu, tàn tật, phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con nhỏ.

+ Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi trên.

- Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình

+ Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình.

+ Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a. Tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

b. Sử dụng các phương tiện thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình;

c. Phổ biến, phát tán tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.

+ Biện pháp khắc phục hậu quả:

a. Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi quy định trên;

b. Buộc thu hồi tư liệu, tài liệu, tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh đối với hành vi quy định tại Điểm a, c nêu trên.

- Hành vi cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý

+ Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a. Cấm thành viên gia đình ra khỏi nhà, ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ người thân, bạn bè hoặc có các mối quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh nhằm mục đích cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý đối với thành viên đó;

b. Không cho thành viên gia đình thực hiện quyền làm việc;

c. Không cho thành viên gia đình tham gia các hoạt động xã hội hợp pháp, lành mạnh.

+ Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi buộc thành viên gia đình phải chứng kiến cảnh bạo lực đối với người, con vật.

+ Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a. Cưỡng ép thành viên gia đình thực hiện các hành động khiêu dâm, sử dụng các loại thuốc kích dục;

b. Có hành vi kích động tình dục hoặc lạm dụng thân thể đối với thành viên gia đình mà thành viên đó không phải là vợ, chồng.

+ Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi quy định nêu trên.

4.2 Xử lý về mặt hình sự(24)

4.2.1 Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình(25)

Người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Hành vi ngược đãi thường được biểu hiện là việc đối xử tồi tệ đối với con, cháu như: xỉ vả, mắng chửi, cố tình cho đói,…mặc dù có điều kiện. Hành vi hành hạ thường được biểu hiện là việc đối xử tàn ác, dùng bạo lực xâm phạm thân thể như: tát, đấm, đá, đánh đập, giam hãm…tuy không nhằm gây thương tích rõ rệt, nhưng được thực hiện lặp đi lặp lại nhiều lần, có hệ thống gây tác động về tâm lý làm cho người bị hại đau đớn về thể xác và tinh thần. Để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này, thì hành vi ngược đãi, hành hạ phải gây hậu quả nghiêm trọng hoặc người vi phạm đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Hành vi nghiêm trọng đối với tội này được hiểu là làm cho người thân luôn luôn bị giày vò về mặt tình cảm, sỉ nhục về danh dự, đau khổ về tinh thần hoặc bị hành hạ gây thương tích hay gây tổn hại cho sức khỏe của người bị hại từ 10% trở xuống hoặc hành vi phạm tội gây dư luận bất bình.

4.2.2 Tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em Điều 228.

Tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em

1. Người nào sử dụng trẻ em làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục mà Nhà nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều trẻ em;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai triệu đồng đến hai mươi triệu đồng.

* Danh mục những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại, vui lòng xem tại Quyền được chăm sóc sức khỏe - Mục 4.3 Bảo vệ trẻ em. Hành vi vi phạm trong lĩnh vực lao động như: không tuân thủ các quy định của pháp luật về độ tuổi lao động, về điều kiện lao động, sử dụng trẻ em làm việc trong điều kiện độc hại, làm các công việc nặng nhọc, nguy hiểm, không trang bị đầy đủ dụng cụ bảo hộ, an toàn lao động…ảnh hưởng đến sức khỏe, nguy hiểm đến tính mạng của trẻ em.

* Chủ thể của tội phạm là những người sử dụng lao động trẻ em.

4.2.3 Tội hiếp dâm trẻ em Điều 112.

1. Người nào hiếp dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Có tính chất loạn luân;

b) Làm nạn nhân có thai;

c) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Có tổ chức;

b) Nhiều người hiếp một người;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Đối với nhiều người;

đ) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61%trở lên;

e) Biết mình bị nhiễm HIVmà vẫn phạm tội;

g) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

*Hiếp dâm trẻ em là hành vi của một người hoặc một số người dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự bảo vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác để giao cấu với trẻ em (người dưới 16 tuổi). Đối với trẻ em dưới 13 tuổi thì người phạm tội có hành vi giao cấu với trẻ em dù có dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác hay không, dù trẻ em có đồng ý hay không thì đều là phạm tội hiếp dâm trẻ em. Đối với trẻ em từ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, người phạm tội dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác giao cấu trái với ý muốn của trẻ em.

* Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự. Chủ thể của tội hiếp dân trẻ em chỉ có thể là nam giới. Phụ nữ có thể là đồng phạm tội hiếp dâm trẻ em với vai trò người giúp sức, người xúi giục hoặc người tổ chức.

* Một số trường hợp phạm tội nêu tại khoản 2:

- Có tính chất loạn luân: là trường hợp hiếp dâm người có quan hệ cùng dòng máu về trực hệ, với anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha.

- Làm nạn nhân có thai là trường hợp cái thai của nạn nhân là hậu quả của hành vi hiếp dâm (phải có kết luận của bác sĩ chuyên khoa, cơ quan y tế có thẩm quyền).

- Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% (căn cứ vào kết quả giám định pháp y).

- Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh là trường hợp mà người phạm tội có mối quan hệ nhất định, có trách nhiệm với nạn nhân như chú, bác, cô, dì đối với cháu; thầy giáo đối với học sinh,...

* Các lưu ý:

- Về việc xác định tuổi của nạn nhân: căn cứ vào giấy khai sinh.

- Để xác định nạn nhân đã bị hiếp hay chưa và mức độ thiệt hại về sức khỏe của nạn nhân cần có kết luận giám định pháp y.

4.2.4 Tội cưỡng dâm trẻ em Điều 114.

1. Người nào cưỡng dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tính chất loạn luân;

b) Làm nạn nhân có thai;

c) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Nhiều người cưỡng dâm một người;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Đối với nhiều người;

d) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

đ) Biết mình bị nhiễm HIVmà vẫn phạm tội; 

e) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

*Cưỡng dâm là hành vi của một người dùng mọi thủ đoạn khiến trẻ em đang lệ thuộc người đó, hoặc trẻ em đang ở trong tình trạng quẫn bách hoặc không có điều kiện kháng cự, phải miễn cưỡng giao cấu với người đó.

- Sự lệ thuộc có thể là về vật chất như được nuôi dưỡng, chăm sóc, giúp đỡ về vật chất giữa người nuôi dưỡng với người được nuôi dưỡng, về xã hội như giữa giáo viên với học sinh,...

- Tình trạng quẫn bách là tình trạng mà trẻ em đang trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, nếu không nhờ đến sự hỗ trợ của người khác thì tự họ rất khó khắc phục được như người thân mắc bệnh hiểm nghèo, bị tai nạn nhưng gia đình nghèo túng,...

- Tình trạng không thể kháng cự như trẻ em đi học về khuya một mình, đi cắt cỏ, chăn trâu ở khu đồi vắng một mình,...

- Các thủ đoạn phạm tội như dọa dẫm, hứa hẹn, lừa phỉnh, hỗ trợ, giúp đỡ về vật chất, tình cảm,...

- Miễn cưỡng giao cấu là nạn nhân dù trong lòng không muốn cho giao cấu, nhưng phải miễn cưỡng giao cấu do thủ đoạn của người phạm tội.

4.2.5 Tội giao cấu với trẻ em Điều 115.

1. Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Có tính chất loạn luân;

d) Làm nạn nhân có thai;

đ) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.

* Giao cấu với trẻ em là hành vi của một người đã thành niên quan hệ tình dục với trẻ em từ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

* Chủ thể của tội phạm: người đã thành niên (đủ 18 tuổi trở lên) và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Hành vi của người đã thành niên giao cấu với trẻ em trong độ tuổi này có sự thuận tình của các em. Các em ở độ tuổi 13 tuổi đến dưới 16 tuổi chưa phát triển đầy đủ về tâm sinh lý và sức khỏe, do vậy, việc giao cấu sẽ gây nguy hiểm cho sự phát triển bình thường của các em, gây tác hại đến sự phát triển đạo đức, nhân cách, ảnh hưởng đến danh dự, phẩm giá của các em. Ở lứa tuổi này, các em còn hạn chế về nhận thức và kinh nghiệm sống nên việc quyết định tình dục không được đúng đắn, dễ cảm tính, bị rủ rê. 

4.2.6 Tội dâm ô đối với trẻ em Điều 116.

1. Người nào đã thành niên mà có hành vi dâm ô đối với trẻ em, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều trẻ em;

c) Đối với trẻ em mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười hai năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

*Hành vi dâm ô được thể hiện ở việc sờ, mó, hôn, hít,….bộ phận sinh dục trẻ em. Hành vi phạm tội còn thể hiện ở hành động bắt trẻ em làm những việc đồi bại với mình.

         * Chủ thể của tội phạm: người thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên) và có năng lực trách nhiệm hình sự. 

---------------------------------------------------

Chú thích:

[21]           Điều 14 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

[22]           Điều 26 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

[23]           Điều 49, 50, 51, 52 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

[24]           Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

[25]           Điều 151 Bộ luật hình sự.

 

 

Xem thêm