Skip to content

Báo cáo kết quả nghiên cứu thực trạng và trở ngại của các tổ chức xã hội làm việc với trẻ em và thanh thiếu niên tại địa phương

TÓM TẮT BÁO CÁO

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu đưa ra một tổng quan thực trạng các tổ chức xã hội về cơ cấu tổ chức, bộ máy nhân sự, tài chính và các loại hình dịch vụ đồng thời tìm hiểu các rào cản, khó khăn của tổ chức đang gặp phải trong quá trình hình thành và hoạt động. Các phương pháp nghiên cứu bao gồm hội thảo tham vấn, phỏng vấn bằng bảng hỏi, thảo luận nhóm và hội thảo tham vấn kết quả. Trong đó, khảo sát bằng bảng hỏi được thực hiện với 105 cán bộ quản lý và nhân viên xã hội tại 43 tổ chức dựa vào cộng đồng tại 06 thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Bến Tre (tỉnh Bến Tre), Thành phố Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp), Thành phố Vĩnh Long (tỉnh Vĩnh Long), Thành phố Long Xuyên (tỉnh An Giang) và Thành phố Cần Thơ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy:
•    74% các TCXH có giấy phép, còn lại 26% chưa có giấy phép.
•    Các tổ chức do cấp tỉnh/thành phố thành lập chiếm tỷ lệ lớn nhất 64%, cấp trung ương 20% và cấp quận/huyện chiếm 16%.
•    Thời gian cấp phép tương đối dài, có đến 30% tổ chức được cấp phép sau hơn 01 năm, trong đó có 12% tổ chức phải trải qua hơn 02 năm.
•    Đa số các tổ chức đã có thâm niên khá lâu trong hoạt động, thường trước thời gian tổ chức được cấp giấy phép. Hơn một nửa các tổ chức có trên 10 năm kinh nghiệm, thậm chí có những tổ chức đã hoạt động trên 20 năm.
•    Gần 2/3 các TCXH có văn phòng hoăc trung tâm, cơ sở hoạt động. Trong số đó, 1/2 các tổ chức có quyền sở hữu và số còn lại đi thuê hoặc được hỗ trợ địa điểm.
•    Các TCXH có quy mô đội ngũ nhân sự nhỏ, 65% các tổ chức có ít hơn 07 thành viên toàn thời gian và sử dụng khá nhiều đội ngũ cộng tác viên/tình nguyện viên.
•    Hơn một nửa số các cán bộ quản lý có trình độ cao đẳng/đại học và 1/5 có trình độ trên đại học. Gần 1/2 đã được đào tạo chuyên ngành CTXH, xã hội học và hầu hết đều qua các khóa học quản lý ngắn hạn và dài hạn có liên quan.
•    Hầu hết các NVXH (89%) đều có trình độ cao đẳng/ đại học và 03% có trình độ trên đại học. Gần 1/2 đã được đào tạo đúng ngành nghề CTXH và được đào tạo đa dạng các khóa học liên quan đến TE/TTN.
•    Quy mô tài chính của các TCXH nhìn chung có sự khác biệt khá lớn. Có 29% TCXH có nguồn tài chính trung bình trên 01 tỷ VNĐ/năm, một số tổ chức có nguồn ngân sách trên 03 tỷ VNĐ/năm. Ngược lại, một tỷ lệ gần tương tự (26%) là các TCXH có nguồn kinh phí dưới 100 triệu VNĐ/năm và 06% không có ngân sách cố định.
•    Trong 05 năm trở lại, 29% TCXH có nguồn tài chính tăng lên, 57% không có nhiều sự thay đổi, chỉ có 14% bị sụt giảm tài chính.
•    Mỗi tổ chức có thể nhận được hỗ trợ từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó nguồn hỗ trợ từ cá nhân trong nước và nước ngoài chiếm tỷ lệ cao nhất (74%).
•    Tỷ trọng nguồn thu từ các hoạt động gây quỹ tự lực còn thấp (bán sản phẩm 20%, cung cấp dịch vụ 11%).
•    Các nhóm khách hàng sử dụng dịch vụ (TE/TTN) khá đa dạng và TCXH làm việc với hầu hết đủ các nhóm TE có hoàn cảnh đặc biệt.
•    Mạng lưới TCXH cung cấp dịch vụ cho TE/TTN khá phong phú cả về số lượng tổ chức và loại hình dịch vụ.
•    Đa số các TCXH (77%) đều tham gia cung cấp dịch vụ trực tiếp cho các nhóm đối tượng TE/TTN tại địa phương, số ít tham gia các hoạt động nghiên cứu và vận động chính sách.
•    Các TCXH gặp nhiều rào cản về pháp lý: Thủ tục giấy phép hoạt động; Thủ tục cấp phép chương trình, dự án, sự kiện; Thủ tục pháp lý liên quan đến TE/TTN; Chính sách pháp luật khi áp dụng thực tế với đối tượng thụ hưởng; Sự hướng dẫn các VBPL của chính quyền.
•    Có sự khác nhau tương đối lớn trong cảm nhận của cán bộ quản lý (CBQL) và nhân viên xã hội (NVXH) về các rào cản pháp lý.
•    Các TCXH phản ánh mức độ rào cản lớn về nguồn lực bao gồm: Tài chính, đội ngũ nhân sự; Cơ sở vật chất vận hành hoạt động và dịch vụ;  Truyền thông, quảng bá về tổ chức; Đội ngũ nhân sự thiếu kiến thức, kỹ năng khi làm việc với TE/TTN. Trong đó, rào cản tài chính phổ biến nhất.
•    Tỷ lệ NVXH phản ánh khó khăn về thủ tục pháp lý cũng như nguồn lực của tổ chức ở mức độ cao hơn so với CBQL.
•    Các TCXH còn gặp những rào cản trong tương tác với các cơ quan chức năng; Thiếu sự hưởng ứng, hợp tác của đối tượng, cộng đồng; Khó khăn trong kết nối mạng lưới hoạt động.
•    Không có nhiều sự khác biệt trong cảm nhận của CBQL và NVXH về các rào cản trong quá trình tương tác, phối hợp với các đơn vị, cá nhân khác.

Xem toàn bộ báo cáo 1

Xem toàn bộ báo cáo 2

Xem thêm